Chữa chứng liệt dương bằng rễ cau

Cây cau có tên khoa học là Arecaceae còn có tên gọi là cây tân lang, binh lang. Cây cau là loài cây nhiệt đới có thân hình trụ tròn, thẳng đứng. Hoa cau có màu trắng , mùi thơm, hoa đực nhỏ hơn hoa cái. Quả cau có hình quả trứng , vỏ bóng nhẵn màu xanh, khi chín có màu vàng – đỏ. Cau được trồng nhiều để làm cảnh và làm thuốc, đặc biệt dễ cau, quả và hoa được làm thuốc chữa các bệnh liệt dương ( rối loạn cương dương), ho, dạ dày, khó tiêu.

chữa chứng bệnh liệt dương bằng rễ cau

Rễ cau chữa liệt dương

Theo Y học cổ truyền: Hạt cau vị chát, tính ôn, có tác dụng diệt trùng, trừ giun sán, tiêu tích, hành thuỷ; vỏ quả cau vị hơi cay, tính ôn, có tác dụng thông tiểu tiện, hành thuỷ, hạ khí. Hoa, quả, thậm chí cả rễ của cây cau đều có nhiều tác dụng chữa bệnh rất tốt, từ ho, dạ dày, khó tiêu, chán ăn, hen suyễn đến cả …cường dương.
Hoa cau: Là nụ hoa đực của cây cau, có vị hơi ngọt, tính mát, có tác dụng bổ tim, gan, dạ dày, trị ho, thanh nhiệt, thông khí, tán ứ trệ khí ở dạ dày…

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng cau

  • Chữa liệt dương: Rễ cau nổi (20-30g) thái nhỏ, sắc với 400ml nước đến khi cô còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày (không nên dùng nhiều).
  • Chữa phù thũng, bụng đầy trướng, khó thở, tiểu ít: Vỏ quả cau 12g, vỏ Quýt 12g, vỏ rễ dâu 12g, vỏ gừng 12g. Đem các thứ trên sắc với 2 bát nước đun cô cho tới khi còn chừng gần 1 thì chắt ra uống làm 2 lần, uống liền trong 5 ngày.
  • Chữa chứng cước khí, sinh đầy bụng hoặc người già bị chứng đầy bụng: Hạt cau khô đem tán mịn, lấy nước của vỏ quả cau đun với bột hạt cau mỗi lần dùng 8g.
  • Chữa chốc đầu: Hạt của quả cau già đem đốt cháy, tán mịn, rắc lên đầu.
  • Chữa viêm ruột kiết lỵ: Hạt cau khô 1 – 2 hạt đập dập, vỏ dộp cây ổi 6g, sắc nước uống.
  • Chữa giun đũa và sán làm đau bụng, miệng ứa nước trong: Hạt cau khô đem thái nhỏ 80g đem sắc cùng 2 bát rượu, đến khi cô lại còn tầm 1 bát, chia uống dần trong 1 giờ cho hết.
  • Chữa hen suyễn: Tua cau rũ, đốt tồn tính, tán mịn, mỗi lần dùng 4 – 8g trộn với nước cháo, ăn rất hiệu nghiệm.
  • Chữa giun đũa, sán dây: Cau 30g, hạt bí ngô 30g sắc uống.
  • Chữa sốt rét: Hạt cau 2g, thường sơn 6g, thảo quả 1g, cát căn 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
  • Chữa no hơi chướng bụng, khó chịu trong lồng ngực: Cau 12g, Chỉ xác 9g, tô cách 9g, mộc hương 3g sắc uống.
  • Chữa khó tiêu, đầy trướng bụng: Hạt cau 10g, sơn tra 10g. Sắc nước uống.
  • Chữa phù thũng, bụng đầy trướng, khó thở, tiểu tiện ít, ốm nghén nôn mửa: Vỏ quả cau, vỏ rễ dâu, vỏ quýt, vỏ gừng mỗi thứ 12 g, sắc với 300 ml nước, lấy 200 ml, chia hai lần uống trong ngày.
  • Chữa ho, đau tức ngực, tê đau các khớp, chướng khí ở bụng: Lấy 0,5 lạng hoa cau hầm với thịt lợn để ăn.

DS. MỸ NỮ
Theo Nongnghiep

Add Comment